|
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 – 6 tuổi
PHẦN MỞ ĐẦU
Ở động vật, có nững tín hiệu do các sự vật, hiện tượng khách quan và các thuộc tính của chúng, kể cả các hình ảnh do các tín hiệu đó tác động vào não gây ra. Các tín hiệu này là cơ sở của hoạt động cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể và cảm xúc cơ thể.
Còn với con người thì sao? Cái gì đã tách con người ra khỏi loài vật. Đó là các tín hiệu ngôn ngữ - chỉ có ở người. Các tín hiệu ngôn ngữ là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm, và các chức năng cấp cao của con người. Ngôn ngữ là công cụ để con người truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụng của người khác vào hoạt động của mình. Từ đó, nó làm cho mình có những khả năng to lớn, nhận thức và nắm vững được bản chất của tự nhiên, xã hội và bản thân.
Do sống và làm việc cùng nhau nên con người có nhu cầu giao tiếp với nhau và nhận thức được hiện thực. Trong quá trình lao động cùng nhau, hai quá trình giao tiếp và nhận thức đó không rời nhau: trong lao động, con người phải thông báo cho nhau về sự vạt, hiện tượng nào đó. Nhưng, để thông báo, lại phải khái quát sự vật hiện tượng đó vào trong một lớp, một nhóm các sự vật, hiện tượng nhất định, cùng loại. Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn được nhu cầu thống nhất các hoạt động đó.
Một đứa trẻ, ngay từ rất sớm, nó đã biết sử dụng ngôn ngữ. Việc sử dụng ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở việc lặp lại điều mà nó đã nghe. Mà, trẻ còn sáng tạo ra những câu nói mới, nói về những chủ đề mới và ngày càng thành thạo hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Các dân tộc khác nhau, các nền văn hoá khác nhau, ở trẻ có những ngôn ngữ khác nhau, nhưng chúng đều phải trải qua các giai đoạn phát triển về ngôn ngữ. Không phải ngẫu nhiên đứa trẻ mới sinh ra đã có thể nói được thành thạo một câu trọn vẹn, đó là cả một quá trình. Trong bài viết này, tôi chỉ xin dừng lại đi sâu phân tích sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ 0 - 6 tuổi. Đây là giai đoạn, mà tôi cho rằng sự phát triển ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đặt nền tảng cho sự phát triển một cách toàn diện của trẻ ở các giai đoạn tiếp theo.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ
1.1. Các học thuyết về phát triển ngôn ngữ.
1.1.1. Quan điểm học hỏi
1.1.2. Quan điểm tự nhiên
1.1.3. Quan điểm tương tác
1.1.4. Quan điểm về sự phát triển ngôn ngữ trẻ em của Vưgôtxki.
1.2. Định nghĩa ngôn ngữ.
1.3. Các bộ phận của ngôn ngữ.
1.3.1. Âm vị
1.3.2. Cú pháp
1.3.3. Ngữ nghĩa
1.4. Các chức năng của ngôn ngữ.
1.4.1. Chức năng chỉ nghĩa:
1.4.2. Chức năng thông báo.
1.4.3. Chức năng khái quát hoá.
II. SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ 0 - 6 TUỔI.
2.1. Tuổi sơ sinh: (0 - 2 tháng)
2.2. Tuổi hài nhi (2 - 12 tháng tuổi).
2.3. Tuổi vườn trẻ (1-3 tuổi).(còn gọi là tuổi ấu nhi)
2.3.1. Hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn.
2.3.2. Hình thành ngôn ngữ tích cực riêng của trẻ.
2.4. Thời kì mẫu giáo (3- 6 tuổi)
2.4.1. Nắm vững ngôn ngữ và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ
2.4.2. Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
2.4.3. Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
III. SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ Ở TRẺ CÂM ĐIẾC.
KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
|