|
Vấn đề di dân và tái định cư ở tỉnh Sơn La.
MỞ ĐẦU
Ở nước ta vấn đề di dân và tái định cư đã có từ rất sớm và nó đang được sự quan tâm của nhiều địa phương. Trước đây, hình thức di dân thường là tự phát chủ yếu do nguyên nhân về tài nguyên. Người ta thường di chuyển từ vùng dân cư đông đúc, tài nguyên ít ỏi đến các vùng dân cư thưa thớt, tài nguyên phong phú. Ví dụ như di dân và tái định cư từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam … Vì thế, di dân kiểu này thường là ổn định, không nảy sinh nhiều vấn đề.
Trong những năm gần đây, để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nhà nước ta đã khởi công xây dựng nhiều công trình, dự án để phục vụ phát triển đất nước, vì vậy, đòi hỏi một diện tích đáng kể mặt bằng cho xây dựng các công trình đó. Đây chính là một khâu quan trọng nhưng rất khó khăn trong công tác chuẩn bị để xây dựng dự án, bởi vì khó khăn trong chính sách đền bù cũng như khó khăn trong việc giải quyết vấn đề di dân và tái định cư cho người dân thuộc diện di chuyển, trong hoàn cảnh ngân sách còn eo hẹp và khả năng đáp ứng tài nguyên cho dân tái định cư tại nơi ở mới còn nhiều hạn chế. Vì thế, di dân kiểu này thường là miễn cưỡng.
Trong các dự án di dân và tái định cư để phục vụ cho xây dựng các cộng trình đáng chú trọng là các dự án di dân tái định cư phục vụ cho xây dựng các công trình thuỷ điện bởi tính chất, quy mô về số người phải di chuyển. Ví dụ khi xây dựng thuỷ điện Sơn La thì diện tích bề mặt bị ngập lụt là 224,28 km2 thuộc hai tỉnh Sơn La và Lai Châu, với số dân phải di chuyển lên tới 91.000 người ( tương ứng với 18.200 hộ gia đình ). Ngoài ra còn phải kể đến các dự án di dân tái định cư phục vụ cho xây dựng thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, Thác Bà …
Một trong những điểm nóng của di dân và tái định cư kiểu này là tỉnh Sơn La, nơi phải tiếp nhận một số lượng lớn người tái định cư thuộc hai công trình thuỷ điện là thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Sơn La, trong hoàn cảnh vốn tài nguyên còn hạn chế, cơ sở hạ tầng để phục vụ cho di dân tái định cư còn yếu kém. Chính vì lý do đó mà các điểm tái định đã được xây dựng ở đây đều tồn tại nhiều mặt bất cập, tính bền vững chưa cao. Thực hiện khóa luận này mục đích nghiên cứu những bất cập đó.
MỤC LỤC
Trang
|
MỞ ĐẦU
|
1
|
|
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ DI DÂN VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
|
2
|
|
1.1.Khái niệm và các hoạt động tái định cư
|
2
|
|
1.1.1. Khái niệm chung
|
2
|
|
1.1.2. Các hoạt động tái định cư
|
2
|
|
1.2. Mỗi quan hệ giữa môi trường và tái định cư
|
3
|
|
1.2.1. Một số tác động môi trường của các hoạt động tái định cư
|
3
|
|
1.2.2. Mối tương tác giữa các hoạt động tái định cư, các nhân tố sinh học tự nhiên và kinh tế xã hội
|
5
|
|
1.2.3. Những nguyên tắc đối với việc tái định cư phù hợp với môi trường và đảm bảo cuộc sống của dân tái định cư
|
7
|
|
1.3. Quan điểm, mục tiêu của nhà nước về di dân tái định cư của thuỷ điện Sơn La
|
8
|
|
1.3.1. Quan điểm
|
8
|
|
1.3.2. Mục tiêu
|
9
|
|
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
|
10
10
10
|
|
2.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
|
10
|
|
2.2.2. Phương pháp đánh giá nhanh môi trường có sự tham gia của cộng đồng
|
10
|
|
2.2.3. Phương pháp điều tra thực địa
|
10
|
|
2.2.4. Phương pháp phân tích hệ thống. Sử dụng thước đo BS để đánh giá độ bền vững và so sánh
|
10
|
|
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
|
13
|
|
3.1. Chính sách đền bù và khả năng đáp ứng thực tế ở một số khu tái định cư thuộc 2 huyện Mai Sơn và Mường La
|
13
|
|
3.2. Một số đặc điểm về bản tái định cư Tiến Sơn - xã Hát Lót, huyện Mai Sơn
|
15
|
|
3.3. Một số đặc điểm về bản tái định cư Nà Nhụng xã Mường Trùm, huyện Mường La
|
20
|
|
3.4. Kết quả nghiên cứu và đánh giá độ bền vững tại 2 bản tái định cư Tiến Sơn và Nà Nhụng
|
25
|
|
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
|
33
|
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO
|
35
|
|
PHỤ LỤC: BẢNG CÂU HỎI DÙNG TRONG ĐIỀU TRA
|
52
|
|